Copy từ : http://vn.news.yahoo.com/vne/20100201/tsc-nhung-gia-thuyet-moi-ve-sinh-vat-ngo-bd74575.html
VnExpress - Thứ Hai, 1/2
Trong suốt như thủy tinh, nhỏ xíu như vi khuẩn là những giả thuyết về hình dạng của sinh vật ngoài địa cầu mà giới khoa học đưa ra.> Cơ hội tìm thấy sinh vật ngoài trái đất đang tới gần
Chủ đề sinh vật ngoài hành tinh vẫn thu hút sự chú ý của giới khoa học trong nhiều năm qua. Trong hai ngày 25 và 26/1, các nhà khoa học từ khắp nơi trên thế giới đã tham dự hội thảo quốc tế về khả năng phát hiện nền văn minh ngoài địa cầu theo lời mời của Hiệp hội Hoàng gia Anh. Chủ đề của hội thảo là "Phát hiện nền văn minh ngoài vũ trụ và những hậu quả của nó đối với xã hội và khoa học".
Mỗi khi đối mặt với câu hỏi “Sinh vật ngoài trái đất có hình dạng thế nào?”, chúng ta sẽ để trí tưởng tượng hoạt động hết công suất. Người nói chúng là những quái vật có xúc tu như bạch tuộc, kẻ bảo chúng có hình dạng giống người nhưng sở hữu nước da xanh xám. Do giới khoa học chưa phát hiện bất kỳ manh mối nào về cấu tạo giải phẫu của sinh vật ngoài hành tinh, chẳng ai biết điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đối mặt với chúng.
Theo Newscientist, mặc dù chưa tìm thấy bằng chứng đáng thuyết phục, nhiều nhà thiên văn và sinh học đã đưa ra những giả thuyết về khả năng tồn tại của sinh vật ngoài trái đất. Thậm chí một số nhà khoa học còn dự đoán về hình dáng, tính cách và cấp độ văn minh của chúng.
Giới khoa học đưa ra hai khả năng trong nỗ lực tìm kiếm nền văn minh ngoài trái đất. Thứ nhất, loài người nên thám hiểm tất cả những hành tinh và vệ tinh gần địa cầu mà phi thuyền của chúng ta có thể tới. Thứ hai, chúng ta có thể phát tín hiệu tới những hành tinh xa xôi với hy vọng một nền văn minh nào đó sẽ bắt được và trả lời.
Nếu một nền văn minh nào đó tồn tại ngay trong hệ Mặt Trời thì chúng ta sẽ có một chút thông tin về môi trường sống của chúng. Rất nhiều nơi trong hệ Mặt Trời có thể nuôi dưỡng sinh vật sống nhờ sự hiện diện của hợp chất carbon và nước. Chẳng hạn, những tầng đất sâu trên sao Hỏa có thể đủ ấm để nuôi dưỡng những vi sinh vật giống như vi khuẩn trên trái đất. Cũng rất có thể các sinh vật to lớn đang bơi trong các đại dương đầy nước của một số vệ tinh trong hệ Mặt Trời – như vệ tinh Europa của sao Mộc. Mới đây các nhà khoa học tìm thấy bằng chứng về sự hiện diện của đại dương ngầm chứa nước bên dưới bề mặt băng của vệ tinh Europa. Bên dưới đại dương ngầm này là lõi đá của Europa – nơi các miệng núi lửa phun ra các dòng nước nóng và giàu dưỡng chất.
Nhà sinh học thiên văn Dirk Schulze-Makuch của Đại học Washington, Mỹ cho rằng năng lượng mà những miệng núi lửa có thể nuôi sống hàng nghìn tỷ vi sinh vật. Quần thể vi sinh vật lại là thức ăn của những động vật ăn thịt lớn hơn. Cứ như thế chúng sẽ tạo thành một chuỗi thức ăn. Theo Schulze-Makuch, kẻ săn mồi to lớn nhất trong đại dương ngầm của Europa có thể là sinh vật xấu xí có trọng lượng khoảng 1 g.
“Những động vật săn mồi có kích thước bằng con tôm có thể tồn tại trên Europa. Chúng không thể to hơn vì không đủ mồi”, Schulze-Makuch nhận xét.
Tất nhiên, nói sinh vật trên Europa có kích thước bằng con tôm không có nghĩa là chúng có hình dạng giống tôm. “Chúng ta không thể nói bất kỳ điều gì về hình dạng của chúng”, Schulze-Makuch thừa nhận. Ngay cả nhiều động vật trên trái đất cũng khiến con người bất ngờ bởi những hình dạng kỳ quái của chúng.
“Tôi đoán rằng chúng giống con sâu, bởi sâu là một loại sinh vật cực kỳ thành công trên trái đất”, Schulze-Makuch nói.
Một bộ phận giới sinh học thiên văn lại nghĩ tới sự tồn tại của những sinh vật sống không cần nước. Phần lớn thiên thể trong hệ Mặt Trời quá nóng hoặc quá lạnh để nước có thể tồn tại ở dạng lỏng. Tuy nhiên, nước không phải là chất lỏng duy nhất chứa các chất hóa học. Nhiều dạng chất lỏng khác cũng chứa những thứ ấy. Đó là tuyên bố của Steven Benner, một nhà khoa học thuộc Quỹ tài trợ nghiên cứu tiến hóa phân tử ứng dụng tại Gainesville, bang Florida, Mỹ.
Những đám mây trên sao Kim - hành tinh thứ hai tính từ mặt trời - chứa những giọt axit sulphuric. Vì thế rất có thể những hồ axit từng tồn tại trên bề mặt sao Kim cách đây vài tỷ năm. Mặc dù axit là môi trường hủy diệt, nó vẫn có thể nuôi dưỡng sinh vật sống nếu chứa những hóa chất phù hợp. Những sinh vật có khả năng sống trong môi trường axit phải được tạo nên bởi những chất chống axit.
“Những sinh vật đa bào trên sao Kim có thể sở hữu những mạch máu được tạo nên bởi thủy tinh để chúng có thể sống trong axit”, Benner nói.
Mà cũng rất có thể những sinh vật trên sao Kim có thân hình trong suốt như thủy tinh và di chuyển trên các tảng đá, chứ không bơi trong axit. Ngoài ra thủy tinh cũng không phải là vật liệu duy nhất có khả năng chống chịu axit. Nhiều hợp chất khác cũng có đặc tính tương tự - như Teflon, polyethylene và silicone.
Ở đâu đó trong hệ Mặt Trời, các hồ và biển trên bề mặt thiên thể vẫn tồn tại tới tận ngày nay, dù chúng không chứa nước. Trên vệ tinh Titan của sao Thổ, các hồ được hình thành bởi hỗn hợp etan và metan ở dạng lỏng. Schulze-Makuch cho rằng một số dạng sinh vật có thể sống trong môi trường như thế.
“Nước có sức căng bề mặt lớn, mà sức căng bề mặt càng lớn thì kích thước tế bào càng nhỏ. Điều đó giải thích tại sao vi khuẩn trên trái đất có kích thước cực bé. Ngược lại, sức căng bề mặt của hỗn hợp metan-etan yếu hơn rất nhiều, vì thế các tế bào trong môi trường đó có thể có kích thước cực lớn”, Schulze-Makuch giải thích.
Trong cách nhìn của loài người thì những sinh vật trên vệ tinh Titan tiến hóa tương đối chậm. Biển trên Titan lạnh thấu xương nên các phản ứng hóa học trong đó sẽ diễn ra siêu chậm.
“Rất có thể sinh vật trên Titan di chuyển chậm và cũng lớn chậm. Vòng đời của chúng có thể lên tới 10.000, thậm chí hàng triệu năm”, Schulze-Makuch phát biểu.
Minh Long
Hiển thị các bài đăng có nhãn Fiction. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Fiction. Hiển thị tất cả bài đăng
2 thg 2, 2010
13 thg 11, 2009
"Một phương tiện di chuyển tương lai của loài người"
Copy từ : http://vn.news.yahoo.com/vne/20091112/tsc-nguoi-ngoai-hanh-tinh-ang-song-tren-bd74575.html
Người ngoài hành tinh 'đang sống trên trái đất'
VnExpress - Thứ Năm, 12/11
Một diễn đàn về những điều không thể lý giải đang diễn ra tại Vân Nam, Trung Quốc. Xinhua đã trò chuyện với những người tham gia để họ có cơ hội giải thích về niềm tin vào sự tồn tại của người ngoài hành tinh.Người ngoài hành tinh 'đang sống trên trái đất'
VnExpress - Thứ Năm, 12/11
Người ngoài hành tinh đang sống tại Vân Nam, Hắc Long Giang và khu tự trị Tân Cương, một giáo vật lý tại Đại học Vân Nam, Trung Quốc, tuyên bố.
"Địa hình phức tạp ở những nơi này tạo điều kiện thích hợp để họ quan sát chúng ta - những cư dân trái đất", Zhang Yifang, Giám đốc Hiệp hội nghiên cứu UFO Côn Minh, khẳng định.
Vân Nam là nơi chiếm tỷ lệ 1/10 số trường hợp nhìn thấy vật thể lạ tại khu vực - hơn 400 trường hợp kể từ năm 1972. Rất nhiều người cho biết đã nhìn thấy một vật thể phát sáng có hình cái bát trên bầu trời.
Zhang, 62 tuổi, là một trong hàng trăm người thường xuyên quan sát bầu trời và đã tham dự diễn đàn về những hiện tượng không thể lý giải nổi, diễn ra từ ngày 31/10 đến 16/11 tại Trung Quốc.
Một số người hoài nghi vấn đề này thì cho rằng lý do duy nhất để Vân Nam trở thành nơi có nhiều phát hiện UFO là do ở đây có quá nhiều người hứng thú với các vật thể bay không xác định.
Điều đó hoàn toàn sai lầm, Zhang khẳng định. "Những người ngoài hành tinh đang sống ngay giữa chúng ta. Vân Nam là một nơi kỳ bí, đầy rẫy những điều kỳ quặc. Trí thông minh của người ngoài hành tinh vượt xa chúng ta. Họ chắc chắn phải có một lý do chính đáng để chọn Vân Nam làm nơi định cư".
Tuy nhiên, ông không đưa ra được bằng chứng cụ thể nào về việc người ngoài hành tinh đang ở Vân Nam.
"Nhưng tôi tin rằng họ tử tế và không hề có ý định tấn công chúng ta", Zhang bổ sung. "Có thể họ cải trang giống hệt con người hoặc họ sản xuất các robot giống người để theo dõi chúng ta". Tuy nhiên, có bao nhiêu người ngoài hành tinh hoặc robot, và họ đến từ khi nào, thì Zhang không trả lời được.
"Rất nhiều người Trung Quốc tin rằng người ngoài hành tinh tồn tại, nhưng chỉ một số ít người đầu tư để nghiên cứu. Những người trẻ tuổi không muốn mất thời gian để nghiên cứu điều mà không biết có tồn tại hay không. Giống như bạn lục tìm trong hư vô. Hơn nữa, nếu họ kể cho bạn bè biết, họ sẽ bị chế giễu hết lời", Zhang bày tỏ.
Zhang Zhousheng, 52 tuổi, từng là nhà thiên văn học tại Đài quan sát Vân Nam, nổi tiếng với dự đoán vào tháng 6/1981 rằng: "Chúng ta sẽ nhìn thấy một UFO vào cuối tháng 7".
Vào ngày 24/7/1981, hàng triệu người tại tỉnh Cam Túc, Thanh Hải, Tứ Xuyên và Vân Nam đã nhìn thấy một vật thể bay có hình xoắn ốc phát sáng trên bầu trời.
"Với nhiều người, UFO là vật thể bay không xác định", Zhang nói, "nhưng với tôi nó hoàn toàn xác định được bởi tôi có thể tính toán khi nào thì nó tới".
Là một nhà thiên văn học, Zhang thường xuyên quan sát bầu trời vào mỗi tối từ chiếc kính viễn vọng tại nhà mình. Ông quan tâm tới UFO lần đầu tiên vào những năm 1970 khi nhìn thấy một thứ gì đó bay trên bầu trời Tứ Xuyên.
"Tôi vẫn còn nhớ mình đã sốc như thế nào khi nhìn thấy vật thể xoắn ốc di chuyển trên bầu trời trong vòng 5 phút", Zhang kể lại.
Kể từ đó ông ngày càng hứng thú sâu sắc với việc nghiên cứu UFO. Lời tiên đoán của ông được đăng trên hàng chục tờ báo và tạp chí. Sau đó ông còn đăng một bài viết lý giải những giả thuyết của mình. Nhưng giờ đây, Zhang khẳng định đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng ông công bố dự đoán của mình bởi mọi người không ngừng tra hỏi ông.
"Việc dự đoán về UFO không giống như mưa sao băng", Zhang nói. "Tôi có thể đoán khi nào thì một UFO tới, nhưng không thể chắc chắn nó có ở đúng vị trí mà chúng ta có thể nhìn thấy không".
Yang Zheng, 29 tuổi, là một trong những thành viên trẻ tuổi nhất của Hiệp hội nghiên cứu UFO Kunming và cũng là một trong những người thường xuyên nhìn thấy UFO.
"Tổng cộng 6 lần, một lần ở Bắc Kinh và 5 lần ở Vân Nam. Nhưng tôi vẫn không hiểu vì sao mình tiếp tục nhìn thấy UFO". Yang nói.
Lần nhìn thấy vật thể lạ đầu tiên của anh là vào 20 năm trước khi anh nhìn thấy một vật thể mầu đỏ trên bầu trời từ cửa sổ nhà mình. Anh lập tức tra cứu sách vở nhưng không tìm ra câu trả lời. Cha anh bảo đó chỉ là một cái máy bay. Quá thất vọng, anh quyết định tự tìm hiểu và bắt đầu nghiên cứu về UFO.
"Càng nghiên cứu, tôi càng cảm thấy niềm tin của mình đang thay đổi".
Trường hợp ấn tượng nhất mà anh điều tra là vào tháng 11/2006 khi hàng nghìn dân làng ở các khu vực thuộc tỉnh Vân Nam khẳng định đã nhìn thấy 7 vật thể lạ hình bán cầu lấp lánh trên bầu trời trong vòng hai giờ đồng hồ.
Tin tức lan truyền nhanh chóng và ngày càng nhiều người đổ xô tới xem. Họ bám theo vật thể di chuyển liên tục. Rồi đột nhiên, mọi ánh sáng biến mất.
Yang đã phỏng vấn người dân ngay tại chỗ, trò chuyện với các già làng và yêu cầu họ vẽ lại những gì nhìn thấy. "Mặc dù tôi không thể chứng minh nó là thật, nhưng tôi tin rằng họ không hề nói dối. Bởi chỉ có các diễn viên chuyên nghiệp mới bịa đặt tài tình như vậy".
Sau cuộc điều tra đó, anh trở lại Bắc Kinh và một lần nữa một UFO hiện ra trước mắt anh. Khi đó anh đang chơi game tại nhà thì cảm thấy bồn chồn trong người như sắp có chuyện gì xảy ra. Anh tắt máy tinh, đi ra ngoài sân và nhìn lên bầu trời. Anh chỉ nhìn thấy một đám mây lớn và không còn gì khác.
"Khi đó tôi hét lên: 'Đừng có chơi trò ú tim với tôi nữa. Hãy ra ngoài đi. Tôi thề rằng sẽ không nói cho một ai khác'. Ngay khi tôi vừa dứt lời, một đốm đỏ tách ra khỏi đám mây. Như thể họ đã nghe thấy tôi nói".
Không chuyên gia nào lý giải được vì sao Yang liên tục nhìn thấy UFO, nhưng anh tin rằng điều đó hẳn có một ý nghĩa nào đó.
"Tất cả những cuộc nghiên cứu và điều tra của tôi không phải để chứng minh sự tồn tại của người ngoài hành tinh, mà hoàn toàn ngược lại. Nó giúp chúng ta hiểu hơn về bản thân và thế giới xung quanh. Tôi nghĩ đó là thông điệp mà họ muốn gửi đến cho tôi".
Cheng Weiguo, 40 tuổi, đến với diễn đàn này với nhiều câu hỏi cùng một nhiệm vụ là bán ý tưởng thiết kế một đĩa bay.
Ông đã giới thiệu về một đĩa bay tiết kiệm năng lượng và chống lại lực hút của trái đất, "một phương tiện di chuyển tương lai của loài người" như ông miêu tả.
"Không giống như máy bay, nó có thể bay theo mọi hướng và dừng lại tại bất cứ đâu. Tôi tin rằng nó sẽ trở thành phương tiện vận chuyển cá nhân thông dụng nhất trong tương lai. Và một chiếc cỡ nhỏ chỉ có giá 20.000 nhân dân tệ", ông tuyên bố.
Cheng cho biết ông đã mất rất nhiều năm để nghiên cứu về đĩa bay và ông sẽ bán sản phẩm của mình với giá hữu nghị.
Anh Thi
10 thg 11, 2009
Lấy điện từ vũ trụ

Copy từ: http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=346992&ChannelID=442TT -
. Thứ Ba, 10/11/2009, 06:40 (GMT+7)
. Thứ Ba, 10/11/2009, 06:40 (GMT+7)
Chính phủ Nhật đang lập một kế hoạch năng lượng đầy tham vọng, trị giá 21 tỉ USD: xây dựng trạm điện mặt trời trên quỹ đạo vào năm 2030 và chuyển điện về Trái đất bằng tia laser hoặc vi sóng.
Phác thảo hệ thống điện mặt trời không gian của JAXA -Ảnh: JAXA/Bloomberg
Đó không phải là một kịch bản khoa học viễn tưởng kiểu Hollywood. Trên thực tế, Chính phủ Nhật đã chỉ định một nhóm công ty và một đội ngũ các nhà khoa học để biến giấc mơ năng lượng sạch vô hạn thành hiện thực.
Theo kế hoạch ban đầu, Tokyo sẽ xây dựng hệ thống điện mặt trời không gian (SSPS), bao gồm một hệ thống tấm quang điện rộng vài kilômet vuông, bay trên quỹ đạo ngoài bầu khí quyển của Trái đất. Do không bị bầu khí quyển cản trở, năng lượng mặt trời trên vũ trụ mạnh gấp năm lần trên mặt đất. SSPS sẽ thu năng lượng mặt trời và “bắn” xuống Trái đất bằng các chùm laser hoặc vi sóng.
"Điện mặt trời là nguồn năng lượng sạch và vô hạn, do đó chúng tôi tin rằng hệ thống này sẽ giúp giải quyết các vấn đề nghiêm trọng như thiếu hụt năng lượng và biến đổi khí hậu"
Các nhà nghiên cứu của Tập đoàn Mitsubishi, một trong những đối tác tham gia dự án, kết luận trong một bản báo cáo
Ông Tadashige Takiya, người phát ngôn của Cơ quan Hàng không vũ trụ Nhật (JAXA), tiết lộ hệ thống thu năng lượng trên mặt đất sẽ là những dàn ăngten parabol khổng lồ, có thể được đặt ở các khu vực giới hạn ngoài biển.
Các nhà nghiên cứu đang xem xét kế hoạch xây dựng một hệ thống có công suất khoảng 1 gigawatt, tương đương công suất của một nhà máy điện hạt nhân quy mô trung bình. JAXA muốn đảm bảo SSPS có thể sản xuất điện với mức giá 8 yen/kWh, rẻ hơn sáu lần so với giá điện hiện nay ở Nhật, để cạnh tranh với các nguồn năng lượng thay thế khác.
Tokyo đã theo đuổi ý tưởng có vẻ không tưởng này từ năm 1998 khi chỉ định 130 nhà khoa học lao vào nghiên cứu. Mới đây, Bộ Kinh tế và thương mại Nhật lại khẳng định quyết tâm biến SSPS thành thực tế khi thành lập nhóm thực hiện với sự tham gia của các đại gia công nghệ như Mitsubishi, NEC, Fujitsu hay Sharp.
Ông Tatsuhito Fujita, một trong những chuyên gia của JAXA, cho biết năm 2015 Tokyo sẽ thiết kế một vệ tinh có gắn các tấm quang điện, đưa lên quỹ đạo bằng tên lửa Nhật, để thử nghiệm việc truyền tải điện bằng vi sóng.
Đến năm 2020, Nhật sẽ thử nghiệm một hệ thống điện quang có công suất 10 megawatt, sau đó là một hệ thống khác 250 megawatt, trước khi đưa hệ thống 1 gigawatt lên quỹ đạo và hoàn tất dự án vào năm 2030.
Các nhà khoa học cho biết thách thức lớn nhất đối với dự án khổng lồ này là việc đưa các thiết bị lên quỹ đạo, cách mặt đất 36.000km. Ngoài ra, JAXA sẽ phải trấn an công chúng rằng công nghệ này là an toàn. Đã có nhiều người lo sợ các tia laser “bắn” từ vũ trụ xuống đất có thể nướng chín chim đang bay hay xẻ đôi máy bay trên không trung. Theo khảo sát gần đây của JAXA, những từ “laser” và “vi sóng” đã gây mối quan ngại đặc biệt đối với 1.100 người được hỏi.
HIẾU TRUNG
(Theo Straits Times, Bloomberg)
Phác thảo hệ thống điện mặt trời không gian của JAXA -Ảnh: JAXA/Bloomberg
Đó không phải là một kịch bản khoa học viễn tưởng kiểu Hollywood. Trên thực tế, Chính phủ Nhật đã chỉ định một nhóm công ty và một đội ngũ các nhà khoa học để biến giấc mơ năng lượng sạch vô hạn thành hiện thực.
Theo kế hoạch ban đầu, Tokyo sẽ xây dựng hệ thống điện mặt trời không gian (SSPS), bao gồm một hệ thống tấm quang điện rộng vài kilômet vuông, bay trên quỹ đạo ngoài bầu khí quyển của Trái đất. Do không bị bầu khí quyển cản trở, năng lượng mặt trời trên vũ trụ mạnh gấp năm lần trên mặt đất. SSPS sẽ thu năng lượng mặt trời và “bắn” xuống Trái đất bằng các chùm laser hoặc vi sóng.
"Điện mặt trời là nguồn năng lượng sạch và vô hạn, do đó chúng tôi tin rằng hệ thống này sẽ giúp giải quyết các vấn đề nghiêm trọng như thiếu hụt năng lượng và biến đổi khí hậu"
Các nhà nghiên cứu của Tập đoàn Mitsubishi, một trong những đối tác tham gia dự án, kết luận trong một bản báo cáo
Ông Tadashige Takiya, người phát ngôn của Cơ quan Hàng không vũ trụ Nhật (JAXA), tiết lộ hệ thống thu năng lượng trên mặt đất sẽ là những dàn ăngten parabol khổng lồ, có thể được đặt ở các khu vực giới hạn ngoài biển.
Các nhà nghiên cứu đang xem xét kế hoạch xây dựng một hệ thống có công suất khoảng 1 gigawatt, tương đương công suất của một nhà máy điện hạt nhân quy mô trung bình. JAXA muốn đảm bảo SSPS có thể sản xuất điện với mức giá 8 yen/kWh, rẻ hơn sáu lần so với giá điện hiện nay ở Nhật, để cạnh tranh với các nguồn năng lượng thay thế khác.
Tokyo đã theo đuổi ý tưởng có vẻ không tưởng này từ năm 1998 khi chỉ định 130 nhà khoa học lao vào nghiên cứu. Mới đây, Bộ Kinh tế và thương mại Nhật lại khẳng định quyết tâm biến SSPS thành thực tế khi thành lập nhóm thực hiện với sự tham gia của các đại gia công nghệ như Mitsubishi, NEC, Fujitsu hay Sharp.
Ông Tatsuhito Fujita, một trong những chuyên gia của JAXA, cho biết năm 2015 Tokyo sẽ thiết kế một vệ tinh có gắn các tấm quang điện, đưa lên quỹ đạo bằng tên lửa Nhật, để thử nghiệm việc truyền tải điện bằng vi sóng.
Đến năm 2020, Nhật sẽ thử nghiệm một hệ thống điện quang có công suất 10 megawatt, sau đó là một hệ thống khác 250 megawatt, trước khi đưa hệ thống 1 gigawatt lên quỹ đạo và hoàn tất dự án vào năm 2030.
Các nhà khoa học cho biết thách thức lớn nhất đối với dự án khổng lồ này là việc đưa các thiết bị lên quỹ đạo, cách mặt đất 36.000km. Ngoài ra, JAXA sẽ phải trấn an công chúng rằng công nghệ này là an toàn. Đã có nhiều người lo sợ các tia laser “bắn” từ vũ trụ xuống đất có thể nướng chín chim đang bay hay xẻ đôi máy bay trên không trung. Theo khảo sát gần đây của JAXA, những từ “laser” và “vi sóng” đã gây mối quan ngại đặc biệt đối với 1.100 người được hỏi.
HIẾU TRUNG
(Theo Straits Times, Bloomberg)
9 thg 11, 2009
10 điều đặc biệt ở loài người
Copy từ: http://vn.news.yahoo.com/vne/20091106/tsc-10-ieu-ac-biet-o-loai-nguoi-bd74575.html
Khả năng dùng lửa, cảm giác xấu hổ, tư thế đứng thẳng là ba trong số những yếu tố quan trọng nhất khiến con người khác biệt muôn loài, Livescience khẳng định.
Khả năng dùng lửa, cảm giác xấu hổ, tư thế đứng thẳng là ba trong số những yếu tố quan trọng nhất khiến con người khác biệt muôn loài, Livescience khẳng định.
- Sống lâu sau khi không còn khả năng sinh con:
- Phần lớn động vật sinh con cho tới khi chết hoặc chết rất nhanh sau khi mất khả năng sinh nở. Nhưng ở loài người, phụ nữ có thể sống rất lâu sau khi ngừng sinh con. Theo giới khoa học, rất có thể những mối quan hệ xã hội của loài người giúp chúng ta chiến thắng quy luật của tạo hóa.
- Tuổi thơ dài:
- Loài người được cha mẹ chăm sóc lâu hơn nhiều so với những loài động vật linh trưởng khác. Nhưng theo quy luật tiến hóa ở động vật, con non phải tự lập càng sớm càng tốt để cha mẹ chúng có thể sinh ra nhiều lứa sau. Quy luật này buộc con non phải lớn rất nhanh nên “tuổi thơ” của chúng khá ngắn ngủi. Nhiều nhà khoa học giải thích rằng bộ não của chúng ta quá lớn so với cơ thể nên nó cần nhiều thời gian hơn để phát triển và tiếp thu kiến thức.
- Xấu hổ:
- Con người là loài duy nhất biết xấu hổ. Charles Darwin – cha đẻ của thuyết tiến hóa – từng gọi đó là “hành vi đặc thù nhất của con người so với những loài động vật khác”. Tuy nhiên giới khoa học vẫn tranh cãi về nguyên nhân khiến con người xấu hổ. Giả thuyết được chấp nhận rộng rãi nhất là: Xấu hổ giúp con người duy trì tính trung thực và tính trung thực tạo nên sự gắn kết giữa các cá nhân trong cộng đồng.
- Dùng lửa:
- Khả năng điều khiển lửa của loài người giúp tổ tiên của chúng ta nhìn thấy môi trường xung quanh trong bóng đêm và xua đuổi thú dữ. Sức nóng của lửa giúp người nguyên thủy sưởi ấm trong thời tiết băng giá và cho phép họ sống ở những khu vực lạnh lẽo. Lửa giúp chúng ta nấu, nướng thức ăn. Nhờ đó mà thức ăn trở nên dễ nhai và tiêu hóa hơn. Các nhà khoa học cho rằng thói quen nhai thức ăn chín khiến kích thước răng và dạ dày của con người giảm dần theo thời gian.
- Mặc quần áo:
- Con người có thể được gọi là “động vật linh trưởng trần”, song ngày nay phần lớn chúng ta mặc quần áo. Đó là những thứ khiến con người trở nên đặc biệt nhất trong thế giới động vật. Thậm chí quá trình phát triển của trang phục còn tác động tới sự tiến hóa của nhiều loài khác. Chẳng hạn, quần áo của chúng ta cung cấp môi trường sống cho chấy, rận. Nhưng nhiều loài vật cũng đã hoặc sắp tuyệt chủng vì loài người cần da, lông của chúng để sản xuất quần áo.
- Tiếng nói:
- Thanh quản của con người nằm thấp hơn trong cổ họng so với tinh tinh. Đó là một trong nhiều yếu tố giúp con người có khả năng phát ra tiếng nói. Trên thực tế thanh quản của chúng ta mới hạ thấp cách đây khoảng 350.000 năm. Xương móng (nằm dưới lưỡi) của người cũng được hạ thấp theo thời gian. Chiếc xương có hình móng ngựa này đặc biệt ở chỗ nó không gắn với bất kỳ xương nào trong cơ thể. Điều đó cho phép chúng ta phát âm rõ ràng khi nói.
- Bàn tay:
- Trái ngược với suy nghĩ của nhiều người, con người không phải là loài động vật duy nhất có ngón tay cái nằm ở phía đối diện với những ngón khác. Trên thực tế phần lớn động vật linh trưởng có ngón tay cái như vậy. Đa số động vật linh trưởng cỡ lớn có ngón chân cái nằm ở phía đối diện so với các ngón kia, nhưng ngón chân cái của người lại nằm cùng phía. Người là động vật linh trưởng duy nhất có khả năng đưa ngón cái tới khắp nơi trên bàn tay và chạm đầu ngón tay út, áp út vào phần cuối của ngón tay cái. Sự linh hoạt cao độ của bàn tay giúp chúng ta nắm chặt mọi vật và thực hiện những thao tác khéo léo với chúng.
- Ít lông:
- Trên thực tế loài người có diện mạo “trần trụi” hơn nhiều so với các loài động vật linh trưởng vì chúng ta có ít lông trên cơ thể hơn. Tuy nhiên, số lượng nang lông trên mỗi cm vuông da người cũng bằng (thậm chí nhiều hơn) so với động vật linh trưởng khác. Nguyên nhân khiến con người có vẻ “trần trụi” hơn là lông của chúng ta mảnh hơn, ngắn hơn và nhẹ hơn so với khỉ, vượn hay tinh tinh.
- Đứng thẳng:
- Nhân loại đặc biệt hơn so với những động vật linh trưởng khác ở chỗ chúng ta đứng thẳng trong phần lớn thời gian tồn tại (trừ lúc ngủ). Tư thế đó giúp đôi tay của người thoát khỏi nhiệm vụ di chuyển để cầm nắm công cụ lao động. Thật không may, xương chậu của chúng ta phải thu nhỏ để thích nghi với tư thế đứng thẳng. Thay đổi ấy, cùng với bộ não khá lớn của bào thai người, khiến cho việc sinh đẻ của người trở nên nguy hiểm hơn so với toàn bộ phần còn lại của thế giới động vật. Đó chính là cái giá mà chúng ta phải chấp nhận để được đứng thẳng. Cách đây một thế kỷ thì sinh con là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ. Tư thế đứng thẳng cũng khiến con người dễ bị đau và căng cơ ở vùng thắt lưng.
- Bộ não khác thường:
- Chẳng ai phủ nhận thứ khiến chúng ta khác biệt so với phần còn lại của thế giới động vật là bộ não. Con người không phải là loài có bộ não lớn nhất thế giới. Nếu xét về kích thước bộ óc, chúng ta thua xa voi, cá nhà táng và nhiều loài khác. Não của hàng trăm loài chim chiếm tới 8% khối lượng cơ thể, trong khi não người chỉ chiếm 2,5%. Mặc dù vậy, não người (chỉ nặng khoảng 1,4 kg khi phát triển đầy đủ) lại giúp chúng ta tư duy, suy luận và tiếp thu kiến thức - những khả năng không xuất hiện ở bất kỳ loài động vật nào khác.
29 thg 10, 2009
Future
Top 10 mẫu xe "lạ" của tương lai
10 mô hình điện thoại trong tương lai
Phát hiện khả năng tiên đoán tương lai ở con người
Những mẫu thiết kế phòng tắm cho tương lai
Tương lai của Internet
5 kịch bản cho tương lai của Facebook
Sách điện tử - Tương lai của văn hóa đọc?
Siêu xe tương lai của Porsche.
Tương lai của công nghệ nhìn từ Ceatec 2009
Phụ nữ tương lai sẽ thấp và nặng hơn
Phát hiện nhóm thiên hà xa nhất
Ngày 'Hành động vì biến đổi khí hậu quốc tế'
Luân Đôn - Thủ đô tương lai của mạng xã hội?
10 mô hình điện thoại trong tương lai
Phát hiện khả năng tiên đoán tương lai ở con người
Những mẫu thiết kế phòng tắm cho tương lai
Tương lai của Internet
5 kịch bản cho tương lai của Facebook
Sách điện tử - Tương lai của văn hóa đọc?
Siêu xe tương lai của Porsche.
Tương lai của công nghệ nhìn từ Ceatec 2009
Phụ nữ tương lai sẽ thấp và nặng hơn
Phát hiện nhóm thiên hà xa nhất
Ngày 'Hành động vì biến đổi khí hậu quốc tế'
Luân Đôn - Thủ đô tương lai của mạng xã hội?
24 thg 10, 2009
Cảnh sát Anh 'gặp người ngoài hành tinh'
Copy from: http://vn.news.yahoo.com/vne/20091022/tsc-canh-sat-anh-gap-nguoi-ngoai-hanh-ti-bd74575.html
VnExpress - Thứ Năm, 22/10/2009
Một sĩ quan cảnh sát Anh nói rằng ông nhìn thấy ba người ngoài hành tinh trên cánh đồng. Người này cho biết nhìn thấy một vật thể có mái tóc màu vàng và mặc áo khoác màu trắng đang kiểm tra một vòng tròn bí ẩn mới được tạo ra trên cánh đồng ở Wiltshire. Khi tiến lại gần, ông nghe thấy tiếng nhiễu sóng và ba vật thể cao hơn 1m80 chạy "nhanh hơn bất kỳ người bình thường nào", Daily Telegraph dẫn lời ông cho biết hôm qua. Chuyên gia về các vòng tròn bí ẩn Andrew Russell cho biết ông tin lời viên sĩ quan kia. "Lúc đầu anh ấy nghĩ đó là các nhân viên pháp y bởi họ mặc áo khoác màu trắng. Họ đều cao hơn 1m80 và tóc vàng. Có vẻ họ đang xem xét gì đó trên cánh đồng", Russell nói. Cảnh sát Wiltshire từ chối bình luận về vụ việc và nói rằng đó là chuyện cá nhân vì nó xảy ra ngoài giờ làm việc của người sĩ quan.
Ngọc Sơn
VnExpress - Thứ Năm, 22/10/2009
Ngọc Sơn
23 thg 10, 2009
Five websitr about universe and astronomy
Copy from: http://vn.news.yahoo.com/tto/20091021/ttc-nam-website-ve-vu-tru-va-thien-van-h-3de8f3a.html
TT- - TTO - Đối với dân "nghiện" thiên văn học thì những website dưới đây là một lựa chọn đáng giá để bạn có thể “bay” vào không gian bao la mà không tốn kém một xu.
TT- - TTO - Đối với dân "nghiện" thiên văn học thì những website dưới đây là một lựa chọn đáng giá để bạn có thể “bay” vào không gian bao la mà không tốn kém một xu.
- NASA
- Đến với website www.nasa.gov của trung tâm vũ trụ NASA, bạn sẽ khám phá được rất nhiều thông tin mà NASA cung cấp như: các tin tức mới nhất thu thập được trong quá trình hoạt động trên vũ trụ, các thông tin về nhiệm vụ,…
- Điểm đáng chú ý của trang web là mục NEWS, bao gồm tất cả những diễn biến mới nhất tại NASA, các tin tức được cập nhật thường xuyên với những hình ảnh và video độc quyền của tập đoàn vũ trụ này. Trong khi đó, phần Multimedia là một nơi mà bạn có thể tìm kiếm được tất cả những gì mang tính giải trí vui vẻ nhất.
- Tất cả những hình ảnh mà NASA cung cấp đều tuyệt đẹp, âm thanh và video đều có sẵn các chức năng tương tác để bạn dễ dàng kiếm soát, chẳng hạn xem hành trình của Trạm vũ trụ quốc tế (ISS).
- Google and Space
- Còn đến với website www.google.com/space, một trang web chuyên cung cấp hình ảnh về vũ trụ và thiên văn học nổi tiếng được thu trực tiếp từ Google Earth. Với chế độ Sky hiện có trên Google Earth cũng như trực tuyến tại web này thì bạn có thể ngắm các ngôi sao, thiên thể, hình ảnh động của các hành tinh trong quỹ đạo, chòm sao cũng như các thiên hà. Ngoài ra, Google còn có chế độ xem bề mặt Mặt Trăng lẫn Sao Hỏa mà hãng mới cung cấp trong phiên bản Google Earth 5 gần đây.
- Tuy nhiên, nếu bạn đã sử dụng Google Earth thì cần phải trang bị một màn hình có độ phân giải cao nếu như muốn tận dụng tối đa những gì mà nó mang lại.
- Space.com
- Website www.space.com là nơi cung cấp cho bạn những thông tin về vũ trụ cũng như thiên văn học với rất nhiều chủ đề và mang tính độc quyền. Trang web cung cấp một phòng triển lãm ảnh, cho phép phóng to các hình ảnh, thậm chí nó còn cho phép bạn tải về làm hình nền cho máy tính của bạn hoàn toàn miễn phí.
- Ngoài ra, bạn còn có thể tham gia vào một mạng cộng đồng những người đam mê công nghệ vũ trụ để trao đổi và học hỏi thêm kinh nghiệm.
- SpaceDaily
- Nếu như bạn muốn tìm hiểu các tin tức về không gian vũ trụ thì có lẽ bạn cần đến trang web của SpaceDaily: www.spacedaily.com với nguồn tin tức trực tuyến dành cho các chuyên gia công nghiệp vũ trụ cũng như những người ưa thích về ngành học này. Trang web được cập nhật một cách thường xuyên với những diễn biến mới nhất.
- Ngoài ra, trang web cũng cung cấp một loạt các bản tin và nguồn cấp dữ liệu với nhiều chủ đề khác nhau như: du lịch không gian, chiến tranh vũ trụ, điện hạt nhân,…
- HubbleSite
- HubbleSite (địa chỉ hubblesite.org) là trang web cung cấp những hình ảnh được chụp từ hệ thống kính viễn vọng không gian Hubble Space Telescope (HST) chụp ngược trở lại trái đất.
- Điểm đáng chú ý là ở mục Gallery, bạn sẽ được cung cấp một kho hình ảnh được chụp gửi về, xem video trình diễn hoặc xem một tuor du lịch dựa trên những hình ảnh trang web cung cấp.
13 thg 10, 2009
IDEAS 6 - New Fiction Story
PLOT
- There is an element to ruin DNA. Life based on DNA can not develop.
- This element have in the air that influence to all species on Earth.
- Mankind and other species will be extinct after about one hundred years.
- But, still exist cells not based on DNA. After a very long time of evolution, this cells will form a new world. That is World X with X: organism have intelligence.
12 thg 10, 2009
Tế bào sinh học không chứa ADN
Chép lại từ : http://www.vnexpress.net/Vietnam/Khoa-hoc/2007/01/3B9F1E46/
Tháng 7/2001, một trận mưa đỏ như máu trút xuống một khu vực rộng lớn ở miền nam Ấn Độ. Trong hạt mưa, các nhà khoa học đã phát hiện những tế bào sống không có ADN. Nhiều người nghĩ đây là bằng chứng xác thực đầu tiên về sự hiện diện của sự sống ngoài trái đất.
Người dân địa phương tin trận mưa là điềm báo trước sự tận thế của trái đất, mặc dù đã có sự giải thích chính thức hiện tượng trên là ảnh hưởng của bụi sa mạc thổi đến từ Ảrập.
Một nhà khoa học trong khu vực, tiến sĩ Godfrey Louis, nhà vật lý học tại Đại học Mahatma Gandhi, cho rằng có điều gì đó bất thường đã xảy ra. Vì các tế bào sinh học bé nhỏ trong nước mưa không chứa ADN - thành phần chủ yếu của mọi dạng sống trên trái đất - nên Louis lập luận rằng có thể nó là các dạng sống ngoài hành tinh. Trước Louis vài thập niên, đã có hai nhà khoa học Anh đưa ra lý thuyết này.
Các tế bào trên có cấu trúc kỳ lạ, thành dày, màu đỏ giống như tế bào, kích thước khoảng 10 micron. Điều lạ lùng hơn, hàng chục thí nghiệm của Louis cho thấy rằng các phần tử thiếu ADN nhưng vẫn còn khả năng sinh sản dồi dào, thậm chí có thể tồn tại trong nước ở 300 độ C (giới hạn cao nhất cho sự sống trong nước được biết đến là khoảng 120 độ C).
Làm thế nào để giải thích hiện tượng này? Tiến sĩ Louis suy luận rằng các phần tử có thể là vi khuẩn ngoài trái đất thích ứng với những điều kiện khắc nghiệt trong không gian. Chúng bám vào sao chổi hay thiên thạch rồi sau đó vỡ ra trong khí quyển trên cao, hòa vào các đám mây gây mưa bên trên vùng trời Ấn Độ.
Nếu lý thuyết của Louis là đúng thì các tế bào này sẽ là bằng chứng đầu tiên về sự sống ngoài hành tinh và có thể là bằng chứng mới về nguồn gốc sự sống trên trái đất.
Năm 2005, Louis đã gửi vài mẫu thí nghiệm đến nhà thiên văn học Anh gốc Sri Lanka Chandra Wickramasinghe và đồng nghiệp ở Đại học Cardiff ở xứ Wales, và họ hiện đang thử nghiệm tái tạo các mẫu vật.
Qua nghiên cứu, Wickramasinghe cho biết: “Chúng tôi có những bức ảnh tuyệt hay về những tế bào cắt lát ở giữa này. Chúng tôi nhìn thấy chúng sinh sôi, với tế bào nhỏ trong tế bào lớn”.
Lý thuyết của Louis đặc biệt hấp dẫn đối với Wickramasinghe. Cách đây 1/4 thế kỷ, giáo sư Wickramasinghe là đồng tác giả với Fred Hoyle về Thuyết tha sinh hiện đại, với ý tưởng cho rằng sự sống trên trái đất có nguồn gốc từ hành tinh khác.
Giáo sư Wickramasinghe nói: “Nếu đúng là sự sống được sao chổi đưa vào trái đất cách đây 4 tỷ năm, thì có thể cho rằng thỉnh thoảng các vi sinh vật vẫn tiếp tục thâm nhập môi trường chúng ta. Đây có lẽ là một trong những sự kiện như vậy”. Nhà vi sinh vật học Milton Wainwright của Đại học Sheffield, thành viên trong đội khoa học nghiên cứu các mẫu của Louis, giải thích rằng bước tiếp theo sẽ là xác định xem liệu có phải các tế bào thiếu ADN hay không.
Wainwright giải thích: “Bởi vì sự sống như chúng ta biết phải chứa ADN, hoặc đó không là sự sống. Nhưng cho dù sinh vật này được chứng minh là bất thường, thì sự vắng mặt ADN cũng không có nghĩa là nó đến từ hành tinh khác”.
Louis và Wickramasinghe đang lên kế hoạch nghiên cứu xa hơn để thử các tế bào bằng chất đồng vị carbon. Nếu kết quả cho thấy chúng nằm ngoài chuẩn mực sự sống trên trái đất thì đó sẽ là bằng chứng thuyết phục cho thuyết của Louis.
Giáo sư Wickramasinghe đã lên đường đến Ấn Độ để trực tiếp điều tra hiện tượng mưa màu đỏ. Ông gặp tiến sĩ Louis và cả hai cùng đến thăm những người chứng kiến trận mưa đỏ. Dù nhiều nhà khoa học hoài nghi Thuyết tha sinh, giáo sư Wickramasinghe vẫn tin tưởng vào lý thuyết của mình: "Nếu một lý thuyết là sai thì sớm muộn gì nó cũng gây xung đột với các quan sát. Nhưng mọi chuyện đã xảy ra từ năm 1977 - khi lần đầu chúng tôi đưa ra các ý tưởng này - và đang dần được xác định, chứ không có sự phản bác hay chứng minh ngược lại”.
Nhưng, có không ít nhà khoa học còn phê phán mạnh mẽ giáo sư Wickramasinghe vì ông tuyên bố virus gây hội chứng SARS trầm trọng năm 2003 và cúm gà năm 2000 là đến từ không gian.
Đã trải qua 3 thập niên, Giáo sư Wickramasinghe nhận được nhiều thư từ và các cuộc điện thoại mang tính đe dọa đối với các ý tưởng của ông, nhưng Thuyết tha sinh của giáo sư hiện đang ngày càng được chấp nhận hơn. Bằng chứng là ngày càng có nhiều đầu tư vào việc tìm kiếm sự sống ngoài không gian. Theo giáo sư Wickramasinghe, sự hoài nghi và chỉ trích của giới khoa học chủ yếu là thái độ của thời kỳ tiền Copernic.
Trước giữa thế kỷ 15, người ta nghĩ rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ. Galileo và Copernic cùng với những người khác lúc đó đã bác bỏ quan điểm này, song phải trải qua một cuộc đấu tranh dài con người mới từ bỏ được quan điểm trái đất là trung tâm. Giáo sư Wickramasinghe nói: “Tôi nghĩ vũ trụ có đầy rẫy sự sống có tri giác... và sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ tiếp xúc được với trí thông minh ngoài hành tinh”.
(Theo An Ninh Thế giới)
Chép lại từ : http://vst.vista.gov.vn/home/database/an_pham_dien_tu/MagazineName.2004-05-26.5439/2007/2007_00003/MItem.2007-06-01.2522/MArticle.2007-06-01.3044/marticle_view
Những protein lệch tâm, kích thước nhỏ đang làm lung lay quan niệm trung tâm của sinh học phân tử, cho rằng gen là vật liệu duy nhất quyết định sự di truyền. ở những thập kỷ gần đây, khoa học đã có những bước tiến bộ ngoạn mục. Trước năm 1950, sự sống được quan niệm chủ yếu là sự tồn tại của protein, nhưng sau phát minh ra chuỗi xoắn kép và bản chất của mã di truyền, mọi người đã có được một cách nhìn mới về sự sống. Những công trình nghiên cứu tiếp theo của J.Watson và F.Crick năm 1953 kết cục đã đem lại lời giải thích về cơ cấu và hoá chất đối với cách thức mà các tế bào lưu trữ, sử dụng và truyền thông tin cho các tế bào mà chúng sản sinh ra. Điều này đã tạo ra một khung mẫu trung tâm trong sinh học phân tử. Theo khung mẫu này, thông tin cấu trúc trong tế bào được truyền theo một chiều từ gen sang protein, do vậy nảy sinh quan điểm cho rằng chuỗi axit amin trong protein có vai trò hoàn toàn quyết định đến cấu trúc cuối cùng của protein đó. Tương tự, điều gì là đúng đối với quá trình tổng hợp protein thì cũng đúng với các cơ chế di truyền: hệ gen (toàn bộ số lượng gen trong tế bào) có vai trò kiểm soát phenotip (kiểu hình), tức là toàn bộ các đặc trưng của cơ thể sống. Hơn nửa thế kỷ sau, đại đa số các nhà sinh học đều tin rằng cơ chế nói trên không chỉ đúng, mà còn là một hệ thống duy nhất có khả năng lĩnh hội được về sự sống. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu gần đây đã phát hiện ra các biến dị làm lay chuyển quan niệm này. Câu hỏi đặt ra tiếp sau là: Liệu khung mẫu trung tâm này của sinh học phân tử (tức là tất cả thông tin di truyền được lưu trữ và truyền đi bằng số, thông qua ADN), có phải là lời giải thích khả dĩ duy nhất về sự tiến hoá của sự sống, hay còn có những cơ chế di truyền nào khác. Những bằng chứng vừa qua đã nhận được nói lên rằng thông tin di truyền có thể truyền theo một cách thức tương tự, thông qua prion. Thuật ngữ “prion” do Stanley Prusiner, cán bộ nghiên cứu của trường Đại học California, đưa ra vào năm 1982, để chỉ “các phần tử lây nhiễm có protein- Proteinaceous Infectious Particles”. Thuật ngữ này được chọn để nhấn mạnh rằng tác nhân gây lây nhiễm mà ông nghiên cứu là protein, chứ không phải bởi các phân tử nucleic của virus, điều mà từ trước tới nay vẫn quan niệm. Trong vòng ít nhất 25 năm, các nhà khoa học đã từng nghi ngờ rằng còn có những tác nhân kỳ lạ, được gọi là những “virus chậm” đã là thủ phạm gây nên các bệnh về não ở động vật và người, như bệnh bò điên, bệnh Creutzfeld- Jacop (CJD), nhưng họ không nhận dạng được. Prusiner là người đầu tiên đã đưa ra giả định rằng tác nhân chung gây ra tất cả các bệnh đó chính là prion. ý tưởng này đã gây ra một làn sóng nghi ngờ rất lớn trong giới nghiên cứu y- sinh học. Họ đòi hỏi phải giải thích cách thức mà một phân tử không có ADN hoặc ARN lại có thể gây ra bệnh. Nhưng Prusiner vẫn tiếp tục chứng minh bằng thực nghiệm lý thuyết của mình và phát minh ra rằng prion thực sự là những protein bị lệch tâm, gây nguy hiểm, có thể làm cho các protein khác thay đổi hình dạng, nhờ đó truyền được thông tin cấu trúc từ phân tử này sang phân tử khác. Công trình này đã tạo ra một cuộc cách mạng nhỏ đối với một giáo lý đã được thiết lập, cho rằng chỉ có virus và vi khuẩn (là những sinh vật có axit nucleic) là có thể gây lây nhiễm. Công trình cho thấy một khả năng nữa: Thông tin cấu trúc có thể truyền từ một phân tử lây nhiễm thuần tuý bằng sự thay đổi hình dáng, chứ không phải ở chuỗi axit amin của protein. Điều kỳ lạ là công trình này đã không thu hút được nhiều quan tâm của các nhà hoá- sinh học, có thể là do nó bắt nguồn từ một lĩnh vực quá xa vời đối với họ là lĩnh vực các bệnh truyền nhiễm. Gần đây hơn, prion đã tìm thấy vai trò ở trong một lãnh địa thiêng liêng nữa của sinh học: Thông tin di truyền được truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau không theo kiểu Medel (Non-Medellian Fashion). Chính là ở trong men là nơi mà lần đầu tiên các nhà nghiên cứu tìm thấy bằng chứng rằng prion có thể thay đổi sự thể hiện (Expression) của các enzym từ tế bào này sang tế bào khác. Khác xa với sự liên quan tới mầm bệnh, loại dòng thông tin dựa vào protein này đã là cơ chế có khả năng thích nghi, tạo ra những ưu thế tiến hoá ở sinh vật tiếp nhận. Gần đây, Susan Linquist thuộc Viện Whitehead ở Cambridge (người đã tiến hành nghiên cứu prion từ năm 1993) dã tìm thấy một ví dụ đáng lưu ý nữa: Prion có tên là Hsp 90. Prion này có vai trò tăng cường sự tiến hoá di truyền khả năng kháng thuốc ở nhiều loại nấm. Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy prion đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và duy trì trí nhớ lâu dài, do Eric Kandel, nhà nghiên cứu ở trường đại học Columbia phát minh ra, mới có tầm quan trọng hơn cả. Các cuộc cách mạng khoa học xảy ra khi một khung mẫu mới thay thế một khung mẫu cũ. Tuy nhiên, sự đụng độ giữa các khung mẫu thường không khai tử khung mẫu cũ. Trái lại, lý thuyết mới được kết hợp vào khung khổ cũ để làm cho nó trở nên phổ quát hơn. Các nhà vật lý đã rất quen với hiện tượng này và nhanh chóng làm cho những quan niệm chung của mình thích ứng với lý thuyết mới. Nhưng liệu các nhà sinh học sẽ có thái độ như thế nào ở trong tình thế mới này khi có 2 khung mẫu xem ra không tương thích với nhau lại đồng thời tồn tại: khung mẫu kinh điển (sinh học phân tử) và khung mẫu prion. Liệu đây có giống trường hợp đã từng xảy ra trong vật lý học, khi Albert Einstein đã cố gắng suốt trong 40 năm để kết hợp thuyết tương đối với cơ học lượng tử mà không thành công hay không? Sinh học phân tử đang đứng trước một bước ngoặt và ta buộc phải chấp nhận rằng cả tự nhiên lẫn sự nuôi dưỡng đều cùng tồn tại ở trong các quy lụât có vai trò điều chỉnh sự sống. Bằng chứng nhận được từ các công trình nghiên cứu về prion có giá trị hết sức to lớn và không thể không quan tâm đến. M.Q. (Theo Seed Magazine, 2/2006)
Mưa máu bí ẩn tại Ấn Độ
Tháng 7/2001, một trận mưa đỏ như máu trút xuống một khu vực rộng lớn ở miền nam Ấn Độ. Trong hạt mưa, các nhà khoa học đã phát hiện những tế bào sống không có ADN. Nhiều người nghĩ đây là bằng chứng xác thực đầu tiên về sự hiện diện của sự sống ngoài trái đất.
Người dân địa phương tin trận mưa là điềm báo trước sự tận thế của trái đất, mặc dù đã có sự giải thích chính thức hiện tượng trên là ảnh hưởng của bụi sa mạc thổi đến từ Ảrập.
Một nhà khoa học trong khu vực, tiến sĩ Godfrey Louis, nhà vật lý học tại Đại học Mahatma Gandhi, cho rằng có điều gì đó bất thường đã xảy ra. Vì các tế bào sinh học bé nhỏ trong nước mưa không chứa ADN - thành phần chủ yếu của mọi dạng sống trên trái đất - nên Louis lập luận rằng có thể nó là các dạng sống ngoài hành tinh. Trước Louis vài thập niên, đã có hai nhà khoa học Anh đưa ra lý thuyết này.
Các tế bào trên có cấu trúc kỳ lạ, thành dày, màu đỏ giống như tế bào, kích thước khoảng 10 micron. Điều lạ lùng hơn, hàng chục thí nghiệm của Louis cho thấy rằng các phần tử thiếu ADN nhưng vẫn còn khả năng sinh sản dồi dào, thậm chí có thể tồn tại trong nước ở 300 độ C (giới hạn cao nhất cho sự sống trong nước được biết đến là khoảng 120 độ C).
Làm thế nào để giải thích hiện tượng này? Tiến sĩ Louis suy luận rằng các phần tử có thể là vi khuẩn ngoài trái đất thích ứng với những điều kiện khắc nghiệt trong không gian. Chúng bám vào sao chổi hay thiên thạch rồi sau đó vỡ ra trong khí quyển trên cao, hòa vào các đám mây gây mưa bên trên vùng trời Ấn Độ.
Nếu lý thuyết của Louis là đúng thì các tế bào này sẽ là bằng chứng đầu tiên về sự sống ngoài hành tinh và có thể là bằng chứng mới về nguồn gốc sự sống trên trái đất.
Năm 2005, Louis đã gửi vài mẫu thí nghiệm đến nhà thiên văn học Anh gốc Sri Lanka Chandra Wickramasinghe và đồng nghiệp ở Đại học Cardiff ở xứ Wales, và họ hiện đang thử nghiệm tái tạo các mẫu vật.
Qua nghiên cứu, Wickramasinghe cho biết: “Chúng tôi có những bức ảnh tuyệt hay về những tế bào cắt lát ở giữa này. Chúng tôi nhìn thấy chúng sinh sôi, với tế bào nhỏ trong tế bào lớn”.
Lý thuyết của Louis đặc biệt hấp dẫn đối với Wickramasinghe. Cách đây 1/4 thế kỷ, giáo sư Wickramasinghe là đồng tác giả với Fred Hoyle về Thuyết tha sinh hiện đại, với ý tưởng cho rằng sự sống trên trái đất có nguồn gốc từ hành tinh khác.
Giáo sư Wickramasinghe nói: “Nếu đúng là sự sống được sao chổi đưa vào trái đất cách đây 4 tỷ năm, thì có thể cho rằng thỉnh thoảng các vi sinh vật vẫn tiếp tục thâm nhập môi trường chúng ta. Đây có lẽ là một trong những sự kiện như vậy”. Nhà vi sinh vật học Milton Wainwright của Đại học Sheffield, thành viên trong đội khoa học nghiên cứu các mẫu của Louis, giải thích rằng bước tiếp theo sẽ là xác định xem liệu có phải các tế bào thiếu ADN hay không.
Wainwright giải thích: “Bởi vì sự sống như chúng ta biết phải chứa ADN, hoặc đó không là sự sống. Nhưng cho dù sinh vật này được chứng minh là bất thường, thì sự vắng mặt ADN cũng không có nghĩa là nó đến từ hành tinh khác”.
Louis và Wickramasinghe đang lên kế hoạch nghiên cứu xa hơn để thử các tế bào bằng chất đồng vị carbon. Nếu kết quả cho thấy chúng nằm ngoài chuẩn mực sự sống trên trái đất thì đó sẽ là bằng chứng thuyết phục cho thuyết của Louis.
Giáo sư Wickramasinghe đã lên đường đến Ấn Độ để trực tiếp điều tra hiện tượng mưa màu đỏ. Ông gặp tiến sĩ Louis và cả hai cùng đến thăm những người chứng kiến trận mưa đỏ. Dù nhiều nhà khoa học hoài nghi Thuyết tha sinh, giáo sư Wickramasinghe vẫn tin tưởng vào lý thuyết của mình: "Nếu một lý thuyết là sai thì sớm muộn gì nó cũng gây xung đột với các quan sát. Nhưng mọi chuyện đã xảy ra từ năm 1977 - khi lần đầu chúng tôi đưa ra các ý tưởng này - và đang dần được xác định, chứ không có sự phản bác hay chứng minh ngược lại”.
Nhưng, có không ít nhà khoa học còn phê phán mạnh mẽ giáo sư Wickramasinghe vì ông tuyên bố virus gây hội chứng SARS trầm trọng năm 2003 và cúm gà năm 2000 là đến từ không gian.
Đã trải qua 3 thập niên, Giáo sư Wickramasinghe nhận được nhiều thư từ và các cuộc điện thoại mang tính đe dọa đối với các ý tưởng của ông, nhưng Thuyết tha sinh của giáo sư hiện đang ngày càng được chấp nhận hơn. Bằng chứng là ngày càng có nhiều đầu tư vào việc tìm kiếm sự sống ngoài không gian. Theo giáo sư Wickramasinghe, sự hoài nghi và chỉ trích của giới khoa học chủ yếu là thái độ của thời kỳ tiền Copernic.
Trước giữa thế kỷ 15, người ta nghĩ rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ. Galileo và Copernic cùng với những người khác lúc đó đã bác bỏ quan điểm này, song phải trải qua một cuộc đấu tranh dài con người mới từ bỏ được quan điểm trái đất là trung tâm. Giáo sư Wickramasinghe nói: “Tôi nghĩ vũ trụ có đầy rẫy sự sống có tri giác... và sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ tiếp xúc được với trí thông minh ngoài hành tinh”.
(Theo An Ninh Thế giới)
Chép lại từ : http://vst.vista.gov.vn/home/database/an_pham_dien_tu/MagazineName.2004-05-26.5439/2007/2007_00003/MItem.2007-06-01.2522/MArticle.2007-06-01.3044/marticle_view
Prion: cuộc cách mạng trong sinh học phân tử?
Những protein lệch tâm, kích thước nhỏ đang làm lung lay quan niệm trung tâm của sinh học phân tử, cho rằng gen là vật liệu duy nhất quyết định sự di truyền. ở những thập kỷ gần đây, khoa học đã có những bước tiến bộ ngoạn mục. Trước năm 1950, sự sống được quan niệm chủ yếu là sự tồn tại của protein, nhưng sau phát minh ra chuỗi xoắn kép và bản chất của mã di truyền, mọi người đã có được một cách nhìn mới về sự sống. Những công trình nghiên cứu tiếp theo của J.Watson và F.Crick năm 1953 kết cục đã đem lại lời giải thích về cơ cấu và hoá chất đối với cách thức mà các tế bào lưu trữ, sử dụng và truyền thông tin cho các tế bào mà chúng sản sinh ra. Điều này đã tạo ra một khung mẫu trung tâm trong sinh học phân tử. Theo khung mẫu này, thông tin cấu trúc trong tế bào được truyền theo một chiều từ gen sang protein, do vậy nảy sinh quan điểm cho rằng chuỗi axit amin trong protein có vai trò hoàn toàn quyết định đến cấu trúc cuối cùng của protein đó. Tương tự, điều gì là đúng đối với quá trình tổng hợp protein thì cũng đúng với các cơ chế di truyền: hệ gen (toàn bộ số lượng gen trong tế bào) có vai trò kiểm soát phenotip (kiểu hình), tức là toàn bộ các đặc trưng của cơ thể sống. Hơn nửa thế kỷ sau, đại đa số các nhà sinh học đều tin rằng cơ chế nói trên không chỉ đúng, mà còn là một hệ thống duy nhất có khả năng lĩnh hội được về sự sống. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu gần đây đã phát hiện ra các biến dị làm lay chuyển quan niệm này. Câu hỏi đặt ra tiếp sau là: Liệu khung mẫu trung tâm này của sinh học phân tử (tức là tất cả thông tin di truyền được lưu trữ và truyền đi bằng số, thông qua ADN), có phải là lời giải thích khả dĩ duy nhất về sự tiến hoá của sự sống, hay còn có những cơ chế di truyền nào khác. Những bằng chứng vừa qua đã nhận được nói lên rằng thông tin di truyền có thể truyền theo một cách thức tương tự, thông qua prion. Thuật ngữ “prion” do Stanley Prusiner, cán bộ nghiên cứu của trường Đại học California, đưa ra vào năm 1982, để chỉ “các phần tử lây nhiễm có protein- Proteinaceous Infectious Particles”. Thuật ngữ này được chọn để nhấn mạnh rằng tác nhân gây lây nhiễm mà ông nghiên cứu là protein, chứ không phải bởi các phân tử nucleic của virus, điều mà từ trước tới nay vẫn quan niệm. Trong vòng ít nhất 25 năm, các nhà khoa học đã từng nghi ngờ rằng còn có những tác nhân kỳ lạ, được gọi là những “virus chậm” đã là thủ phạm gây nên các bệnh về não ở động vật và người, như bệnh bò điên, bệnh Creutzfeld- Jacop (CJD), nhưng họ không nhận dạng được. Prusiner là người đầu tiên đã đưa ra giả định rằng tác nhân chung gây ra tất cả các bệnh đó chính là prion. ý tưởng này đã gây ra một làn sóng nghi ngờ rất lớn trong giới nghiên cứu y- sinh học. Họ đòi hỏi phải giải thích cách thức mà một phân tử không có ADN hoặc ARN lại có thể gây ra bệnh. Nhưng Prusiner vẫn tiếp tục chứng minh bằng thực nghiệm lý thuyết của mình và phát minh ra rằng prion thực sự là những protein bị lệch tâm, gây nguy hiểm, có thể làm cho các protein khác thay đổi hình dạng, nhờ đó truyền được thông tin cấu trúc từ phân tử này sang phân tử khác. Công trình này đã tạo ra một cuộc cách mạng nhỏ đối với một giáo lý đã được thiết lập, cho rằng chỉ có virus và vi khuẩn (là những sinh vật có axit nucleic) là có thể gây lây nhiễm. Công trình cho thấy một khả năng nữa: Thông tin cấu trúc có thể truyền từ một phân tử lây nhiễm thuần tuý bằng sự thay đổi hình dáng, chứ không phải ở chuỗi axit amin của protein. Điều kỳ lạ là công trình này đã không thu hút được nhiều quan tâm của các nhà hoá- sinh học, có thể là do nó bắt nguồn từ một lĩnh vực quá xa vời đối với họ là lĩnh vực các bệnh truyền nhiễm. Gần đây hơn, prion đã tìm thấy vai trò ở trong một lãnh địa thiêng liêng nữa của sinh học: Thông tin di truyền được truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau không theo kiểu Medel (Non-Medellian Fashion). Chính là ở trong men là nơi mà lần đầu tiên các nhà nghiên cứu tìm thấy bằng chứng rằng prion có thể thay đổi sự thể hiện (Expression) của các enzym từ tế bào này sang tế bào khác. Khác xa với sự liên quan tới mầm bệnh, loại dòng thông tin dựa vào protein này đã là cơ chế có khả năng thích nghi, tạo ra những ưu thế tiến hoá ở sinh vật tiếp nhận. Gần đây, Susan Linquist thuộc Viện Whitehead ở Cambridge (người đã tiến hành nghiên cứu prion từ năm 1993) dã tìm thấy một ví dụ đáng lưu ý nữa: Prion có tên là Hsp 90. Prion này có vai trò tăng cường sự tiến hoá di truyền khả năng kháng thuốc ở nhiều loại nấm. Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy prion đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và duy trì trí nhớ lâu dài, do Eric Kandel, nhà nghiên cứu ở trường đại học Columbia phát minh ra, mới có tầm quan trọng hơn cả. Các cuộc cách mạng khoa học xảy ra khi một khung mẫu mới thay thế một khung mẫu cũ. Tuy nhiên, sự đụng độ giữa các khung mẫu thường không khai tử khung mẫu cũ. Trái lại, lý thuyết mới được kết hợp vào khung khổ cũ để làm cho nó trở nên phổ quát hơn. Các nhà vật lý đã rất quen với hiện tượng này và nhanh chóng làm cho những quan niệm chung của mình thích ứng với lý thuyết mới. Nhưng liệu các nhà sinh học sẽ có thái độ như thế nào ở trong tình thế mới này khi có 2 khung mẫu xem ra không tương thích với nhau lại đồng thời tồn tại: khung mẫu kinh điển (sinh học phân tử) và khung mẫu prion. Liệu đây có giống trường hợp đã từng xảy ra trong vật lý học, khi Albert Einstein đã cố gắng suốt trong 40 năm để kết hợp thuyết tương đối với cơ học lượng tử mà không thành công hay không? Sinh học phân tử đang đứng trước một bước ngoặt và ta buộc phải chấp nhận rằng cả tự nhiên lẫn sự nuôi dưỡng đều cùng tồn tại ở trong các quy lụât có vai trò điều chỉnh sự sống. Bằng chứng nhận được từ các công trình nghiên cứu về prion có giá trị hết sức to lớn và không thể không quan tâm đến. M.Q. (Theo Seed Magazine, 2/2006)
7 thg 10, 2009
Science Fiction Story
Có thể trao đổi hoặc mượn lẫn nhau hoặc chỉ cho nhau biết.
VIỄN TƯỞNG:
- I am Legend, Richard Matheson - Thành phố chết, Hương Lan.
- Những tên trộm vũ trụ, Geoffrey Mathews - Thu Tuệ dịch.
- Không gian méo, Alecxandr Texlenkô - Trần Thu dịch.
- Vẫn là con chúng tôi, Rây Bređberi - Trần Thu dịch.
- Einstein's Dreams, Alan Lightman - Lê Chu Cầu dịch.
- Les Guerres De Demain, Pascal Boniface - Những cuộc chiến tranh trong tương lai?, Thu Ngân dịch.
- Lực lượng gián điệp, Deborah Abela - Nguyễn Huế Phượng dịch.
- A Wrinkle in Time, Madeleine L'engle - Nguyễn Lan Hương dịch.
- Cậu bé vùng thảo nguyên, Xemiôn Xeepưnin - Cậu bé thời tiền sử, Nguyễn Xuân Tiến & Nguyễn Thị Thúy Hồng dịch.
- Người cá, A.R.Beljaev - Trọng Thảo phỏng dịch.
- Chúa tể thế giới, Alecxandro Beliaev - Hoàng Dương dịch.
- Những cuộc phiêu lưu của Xê-Muy-En-Pinh, Xéc-Gây Bê-li-a-ép - Nguyễn Đức Vinh dịch.
- Những bước đi vào nơi chưa biết, Xêverơ Ganxốpxki - Sống nhanh ba trăm lần, Kim Hải dịch.
- Chiếc máy Hyperboloid của kỹ sư Garin, A.N.Tônxtôi - Tia chiếu khủng khiếp của kỹ sư Garin, Đặng Ngọc Long dịch.
- Fantastis Voyage, Isaac Asimov - Cuộc du hành, Đỗ Ngọc Giao dịch.
- Tôi, người máy Isaac Asimov - Nguyễn Xuân Hồng dịch.
- Phi thuyền thời gian, Henry George Wells - Đào Quốc Tuấn biên dịch.
- Hành tinh khỉ, Spierre Boulle - Mai Thế Sang dịch.
- Người bán không khí, Alecxandr Beliaev - Hồ Quốc Vỹ dịch.
- Những đỉnh núi của số phận, Frăngxit Carơxắc - Phạm Văn Thiều dịch.
- Nếu ông ấy trở về, Ghennađi Macximôvich - Phạm Văn Thiều dịch.
- Đuổi bắt, Vlađimia Mikhainovski - Phạm Văn Thiều dịch.
- Cherchez La Femme, Ghennađi Macximôvich - Hãy đi tìm người đàn bà, Phạm Văn Thiều dịch.
- Thế giới bị đánh mất Công viên Kỷ Jura, Michael Crichton - Lê Uyên Na dịch.
- Mối tình ngoài thời gian, Manuel Garcia-Vieo - Nguyễn Chiến dịch.
- Nếu người ta bảo rằng anh đã chết, H.Hargreaves - Nguyễn Chiến dịch.
- Tội ác giả tưởng, Max Raynold - Thái Hà dịch.
- Rôbốt, Liubendilov - Vũ Đình Bình dịch.
- Hoang mạc Châu Phi, Ray Bradbury - Thái Hà dịch.
- Chất làm gỉ, Ray Bradbury - Thái Hà dịch.
- Sấm rền, Ray Bradbury - Trần Đức Tài dịch.
- Vật thí nghiệm, Hebri Troyat - Nguyễn Chiến dịch.
- Về những cuộc phiêu lãng vĩnh cửu và trái đất, Ray Bradbury - Nguyễn Chiến dịch.
- Tiếng gọi trong sương mù, Ray Bradbury - Trần Đức Tài dịch.
- Nhà phi hành, Ray Bradbury - Trần Đức Tài dịch.
- Những người buôn tri thức, O.Lasley - Đức Mẫn dịch.
- Bay quanh mặt trăng, Jules Verne - Nguyễn Thành Thống dịch.
- Hạnh phúc miền xa xăm, Lê Đức Hân.
- Người trở về cùng sao Ha Lây, tập truyện của Vũ Bội Tuyền.
- Les Fourmis, Bernard Werber - Kiến, Lê Thu Hằng dịch.
- Nhật ký vũ trụ của Ion lặng lẽ, Xtanixlap Lem - Đoàn Tử Huyền & Hiếu Trang dịch.
- George's Secret Key to the Universe, Lucy & Stephen - Chìa khóa vũ trụ của George, Lê Minh Đức dịch.
- Tinh vân tiên nữ, I.Efremov - Phạm Mạnh Hùng dịch.
- Âm mưu ngày tận thế, Sidney Sheldon - Minh Tân dịch.
- Charlie and the Great Glass Elevator, Road Dahl - Charlie và chiếc thang máy bằng kính, Nguyễn Thị Bích Nga dịch.
- Người tìm thấy mặt, Alexander Beliav - Kim Hải dịch.
- Tôi không phải người máy, Vũ Bội Tuyền tuyển chọn và biên dịch.
- Người xanh của Trái đất hồng, Vitali Melentiev - Đặng Ngọc Long & Vũ Việt dịch.
- Bản cáo phó, I.A-đi-mốp - Quốc Tuấn dịch.
- Cuộc gặp gỡ trong thời gian, V.Rát-cốp - Phạn Thị Hạnh dịch.
- Người chạy trốn, V.Gô-lô-va-sép - Trần Lê dịch.
- Mười ba "Ô-xca-rơ", Iu Mét-vê-đép - Nguyễn Văn Thảo dịch.
- Nửa giây, Phlô-ben-cốp - Quốc Tuấn dịch.
- Gíao sư Béc-nơ thức giấc, V.Xáp-Iren-cô - Phước Hiền dịch.
- Tôi giết anh ấy, Gioóc Giơ Lăng Cơ Lanh - Nguyễn Bá Thi dịch.
- Gemma James' Atlantic Adventure, Mick Gowar - Huyền thoại Atlantic, Trịnh Ngọc Minh dịch.
- Những kỵ sĩ từ cõi hư vô, A.&Xabramốp - Thái Minh Trang & Nguyễn Đức Bảo dịch.
- Thời gian ra đi, Thiên Hà.
- Săn khủng long, Henri Vernes - Lê Hoàng Quân dịch.
- Solaris, Stanislav Lem - Solaris Hành tinh bí ẩn, Nguyễn Thế Long dịch.
- Mê cung ảnh, Sergei Lukianenko - Phương Hoài dịch.
- I dolshe veka dlitsja den, Chingiz Ajtmatov - Một ngày dài hơn thế kỹ, Lê Khánh Trường & Nguyễn Đức Dương dịch.
- La guerre du feu, J.H.Rosny Anh - Đoạt lửa, Hoàng Thái dịch.
- Người máy A-Đam-Linh, Ianđo Baiđo - Nguyễn Thế Xương dịch.
- ? Một mình giữa đại dương, A-lanh Bôm-ba - Phan Quang.
- Hành tinh kỳ lạ, Viết Linh.
- Animorphs, K.A.Applegate - Hương Lan dịch.
- . . .
GIẢ TƯỞNG:
- Oxygenien, Klára Fehér - Hành tinh Oxygene, Nguyễn Phú Hoàng & Phạm Huy Tưởng.
- Nguyên tố thứ 5, Luc Besson & Robert Mark Kamen - Tuấn Minh biên dịch.
- Miền đất thất lạc, Arthur Conan Doyle - Anh Tuấn & Kim Phượng dịch.
- Người anh em sói, Michelle Paver - Nguyễn Thị Hằng dịch.
- Chiếc la bàn vàng, Philip Pullman - Kiều Hoa biên soạn.
- Cùng cội nguồn, Nguyễn Văn Lân.
- The Merchant of Death, D.J.MacHale (Pendra gon tập 1) - Con buôn tử thần, dịch giả Đặng Phi Bằng.
- Artemis Fowl: Cậu bé Artemis Fowl, Eoin Colfer - Dương Thị Huyền dịch.
- Artemis Fowl: Sự cố ở Bắc Cực, Eoin Colfer - Dương Thị Huyền dịch.
- Artemis Fowl: Mật mã vĩnh cửu, Eoin Colfer - Dương Thị Huyền dịch.
- Artemis Fowl: Trò lừa bịp của Opal, Eoin Colfer - Dương Thị Huyền dịch.
- The lost city of Faar, D.J.MacHale (Pendragon tập 2) - Faar Thành phố mất tích, dịch giả Đặng Phi Bằng.
- Star Wars, Kevin J.Anderson & Rebeccaa Moesta - Chiến tranh giữa các vì sao, Anh Thư dịch.
- Thân chủ tôi không giết người, Nguyễn Vũ Tuấn Anh ?.
- Sai lầm từ Alpha-Centaver, Nguyễn Vũ Tuấn Anh ?.
- Người cuối cùng của lục địa Atlantic, Nguyễn Vũ Tuấn Anh ?.
- Ông già Khốt-Ta-Bít, L.La-Ghin - Minh Đăng Khánh dịch.
- Hơn cả loài người, Theodore Sturgeon - Trọng Thảo biên dịch.
- Hành tinh Trullion, Jack Vance - Tuấn Minh biên dịch.
- Lệnh giết người, Robert Sheckley - Thái Hà dịch.
- Cuộc chiến tranh với loài lưỡng thê, Karel Trapek - Phương Lan dịch.
- The Giver, Lois Lowry - Người truyền ký ức, Nguyễn Quỳnh Trang dịch.
- Thế giới màu xanh, Jack Vance - Võ Liên Phương biên dịch.
- Người đàn ông không mặt, Jack Vance - Võ Liên Phương biên dịch.
- Tiến sĩ tương lai, Phillip K. Dick - Huỳnh Thái biên dịch.Dune, Frank Herbert - Xứ Cát, Trần Tiễn Cao Đăng dịch.
- La prochaine fois, Marc Levy - Kiếp sau, Nguyễn Hương Lan dịch.
- Return from the dead: Viên ngọc bảy ngôi sao, Bram Stoker - Thanh Vân dịch.
- Return from the dead: Xác ướp, Jane Weeb - Thanh Vân dịch.
- Return from the dead: Trò chuyện cùng xác ướp, Edgar Allan Poe - Thanh Vân dịch.
- Return from the dead: Cái nhẫn của Thoth, Arthur Conan Doyle - Thanh Vân dịch.
- Return from the dead: Lô số 249, Arthur Conan Doyle - Thanh Vân dịch.
- . . .
CHƯA CÓ:
- Robert Sheckley: Chưa được bàn tay con người sờ đến, Người công dân trong vũ trụ, Sự bất tử chở đến tận nhà, Hành trình vào sau ngày mai.
- Herbert George Wells: Con người năm một triệu.
- Ursula Le Guin
- A.Kazantsev
- I.Efremov
- A B.Strugatski
- Hugo Gernsback
- C.Cartmael
- Karel Caapek
- Staislaw Lem: Cuộc thử thách trí tuệ, Thực nghiệm cuối cùng, Địa đàng, Bất khả chiến thắng.
- Ray Bradbury: Nhật ký sao Hỏa, 4510 Fahrenheit, Người trong truyện tranh.
- Vitali Grigorievitr Melentiev: Ánh sáng đen, 33 tháng ba, Sự im lặng lên tiếng, Người tìm thấy.
- Lois Lowry: A Summer to Die - Mùa hè để chết, Gathering Blue - Tích tụ màu xanh, Messenger - Người đưa tin.
- Jack Vance: Cổ máy giết người, Hoàng tử của các vì sao, bộ Tschai.
- Frank Herbert: Dune Messiah, Chidren of Dune, God Emperor of Dune, Heretics of Dune, Chaptrrhouse Dune.
- Florin Chirculescu (Patrick Herbert): Xứ Cát 7 - Gia tộc Brundunr.
- Trái đất gọi, nhiều tác giả.
- J.H.Rosny: Con mãnh thú khổng lồ.
- . . .
Nhãn:
Each book is a creation,
Fiction
18 thg 6, 2009
A Wrinkle in Time
NẾP GẤP THỜI GIAN:
A Wrinkle in Time - Madeleine L'engle, Nguyễn Lan Hương dịch, là một truyện viễn tưởng có từ năm 1962. Cuối sách có một tiểu luận rất hay là " Hành trình mơ mộng cùng Nếp gấp thời gian - Khoa học đời thực đằng sau huyền ảo" do Lisa Sonne viết về vũ trụ, sự sống, chiều không gian, máy tính
A Wrinkle in Time - Madeleine L'engle, Nguyễn Lan Hương dịch, là một truyện viễn tưởng có từ năm 1962. Cuối sách có một tiểu luận rất hay là " Hành trình mơ mộng cùng Nếp gấp thời gian - Khoa học đời thực đằng sau huyền ảo" do Lisa Sonne viết về vũ trụ, sự sống, chiều không gian, máy tính
17 thg 6, 2009
Con người sẽ bất tử trong 20 năm nữa
Chép lại từ : vn.news.yahoo.com
VnExpress - Thứ Ba, 29/9
Một nhà phát minh hàng đầu của Mỹ khẳng định con người sẽ trở nên bất tử trong ít nhất hai thập kỷ tới nhờ những thành tựu trong công nghệ nano và sự hiểu biết ngày càng tăng của chúng ta đối với cơ thể.
Ray Kurzweil, nhà phát minh và tương lai học 61 tuổi, nói rằng tri thức mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin và di truyền đang tăng lên với tốc độ khó tin. Theo ông, về mặt lý thuyết, nếu sự hiểu biết của nhân loại cứ tiếp tục tăng như hiện nay, trong vòng 20 năm nữa, công nghệ nano có thể giúp chúng ta tạo ra những sản phẩm có chức năng giống hệt các cơ quan nội tạng. Khác với cơ quan nội tạng, những sản phẩm ấy không bị lão hóa nên không bao giờ chết.
Kurzweil nói thêm rằng mặc dù tiên đoán của ông có vẻ viển vông, song ngay ở thời điểm hiện tại nhiều người đã được cứu sống nhờ tụy và tế bào thần kinh nhân tạo.
Trong bài viết đăng trên tạp chí The Sun, Kurzweil khẳng định: “Tôi và nhiều nhà khoa học tin rằng trong khoảng 20 năm nữa chúng ta sẽ tìm ra cách lập trình lại đồng hồ sinh học của cơ thể để con người có thể ngừng rồi đảo ngược quá trình lão hóa. Khi đó công nghệ nano sẽ cho phép chúng ta sống mãi mãi trên đời".
"Những cỗ máy có kích thước nano sẽ thay thế tế bào máu và hoạt động hiệu quả hơn vài nghìn lần. Trong vòng 25 năm nữa chúng ta có thể chạy mà không cần hít thở trong 15 phút, hoặc lặn dưới nước trong 4 giờ mà không cần tới khí oxy", Kurzweil nhận định. "Những người bị đau tim sẽ tự lái xe tới nhà bác sĩ để phẫu thuật vì các cỗ máy nano giúp họ sống sót sau khi cơn đau tim xảy ra. Nhờ công nghệ nano, não con người sẽ hoạt động nhanh tới mức chúng ta có thể viết một cuốn sách trong vài phút”.
Ray Kurzweil (sinh năm 1948) là nhà phát minh và nhà tương lai học hàng đầu tại Mỹ hiện nay. Ông nghiên cứu nhiều lĩnh vực, từ công nghệ nhận dạng ký tự quang học cho tới công nghệ chụp cắt lớp. Ông viết nhiều sách về sức khỏe, trí tuệ nhân tạo, tương lai và công nghệ. Kurzweil là nhà phát minh đầu tiên về nguyên lý máy nhận dạng ký tự, máy chuyển văn bản thành tiếng nói phục vụ người mù, máy chụp cắt lớp, bộ tổng hợp và tạo lại tiếng các loại nhạc cụ, máy chuyển tiếng nói thành chữ viết.
Minh Long
VnExpress - Thứ Ba, 29/9
Một nhà phát minh hàng đầu của Mỹ khẳng định con người sẽ trở nên bất tử trong ít nhất hai thập kỷ tới nhờ những thành tựu trong công nghệ nano và sự hiểu biết ngày càng tăng của chúng ta đối với cơ thể.
Ray Kurzweil, nhà phát minh và tương lai học 61 tuổi, nói rằng tri thức mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin và di truyền đang tăng lên với tốc độ khó tin. Theo ông, về mặt lý thuyết, nếu sự hiểu biết của nhân loại cứ tiếp tục tăng như hiện nay, trong vòng 20 năm nữa, công nghệ nano có thể giúp chúng ta tạo ra những sản phẩm có chức năng giống hệt các cơ quan nội tạng. Khác với cơ quan nội tạng, những sản phẩm ấy không bị lão hóa nên không bao giờ chết.
Kurzweil nói thêm rằng mặc dù tiên đoán của ông có vẻ viển vông, song ngay ở thời điểm hiện tại nhiều người đã được cứu sống nhờ tụy và tế bào thần kinh nhân tạo.
Trong bài viết đăng trên tạp chí The Sun, Kurzweil khẳng định: “Tôi và nhiều nhà khoa học tin rằng trong khoảng 20 năm nữa chúng ta sẽ tìm ra cách lập trình lại đồng hồ sinh học của cơ thể để con người có thể ngừng rồi đảo ngược quá trình lão hóa. Khi đó công nghệ nano sẽ cho phép chúng ta sống mãi mãi trên đời".
"Những cỗ máy có kích thước nano sẽ thay thế tế bào máu và hoạt động hiệu quả hơn vài nghìn lần. Trong vòng 25 năm nữa chúng ta có thể chạy mà không cần hít thở trong 15 phút, hoặc lặn dưới nước trong 4 giờ mà không cần tới khí oxy", Kurzweil nhận định. "Những người bị đau tim sẽ tự lái xe tới nhà bác sĩ để phẫu thuật vì các cỗ máy nano giúp họ sống sót sau khi cơn đau tim xảy ra. Nhờ công nghệ nano, não con người sẽ hoạt động nhanh tới mức chúng ta có thể viết một cuốn sách trong vài phút”.
Ray Kurzweil (sinh năm 1948) là nhà phát minh và nhà tương lai học hàng đầu tại Mỹ hiện nay. Ông nghiên cứu nhiều lĩnh vực, từ công nghệ nhận dạng ký tự quang học cho tới công nghệ chụp cắt lớp. Ông viết nhiều sách về sức khỏe, trí tuệ nhân tạo, tương lai và công nghệ. Kurzweil là nhà phát minh đầu tiên về nguyên lý máy nhận dạng ký tự, máy chuyển văn bản thành tiếng nói phục vụ người mù, máy chụp cắt lớp, bộ tổng hợp và tạo lại tiếng các loại nhạc cụ, máy chuyển tiếng nói thành chữ viết.
Minh Long
15 thg 6, 2009
Thế giới song song
Truyện giả tưởng "Chiếc la bàn vàng" - tác giả Philip Pullman - Kiều Hoa biên soạn - nước ngoài chuyển phim - 2009 đã chiếu trên tivi, có viết: "Ở đây, trên boong tàu này, đang tồn tại hàng triệu hàng triệu những thế giới khác nhau, và không một thế giới nào biết về những thế giới khác . . . "
14 thg 6, 2009
Viễn tưởng
Tới ngày 14/9/09, bài viết này được chuyển từ blog nguoilontuoi.blogspot.com qua blog này.
Ý tưởng 1977 :
- Thái dương hệ, các thiên hà, . . . gom lại tạo nên một bộ phận nhỏ nào đó của 1 sinh vật.
- Một sinh vật lớn lắm được cấu tạo bởi các bộ phận nhỏ này.
- Tương tự theo hướng ngược lại, có những sinh vật nhỏ hơn trong cơ thể con người.
- Phải tìm định nghĩa sinh vật là gì ? Hội đủ các điều kiện gì mới là sinh vật ?
- Có thể tìm ra cách tiếp xúc giữa các thế giới : hiện giờ, lớn hơn, nhỏ hơn ?
Thế giới 3 chiều :
Ý tưởng 1,977 thuộc loại này
Các thế giới khác :
Đã có truyện viễn tưởng nói tới :
- Chiều thứ 4
- Thế giới phẳng
- Nhiều thế giới 3 chiều tồn tại song song
- Nhiều không gian 3 chiều tồn tại song song, con người có thể di chuyển qua các không gian này với nhau
- Trên trái đất, trí thông minh không phải chỉ lòai người mới có
Các phương pháp tiếp xúc :
- Truyện viễn tưởng Cuộc Du Hành dùng Morse code để liên lạc với những người bị thu nhỏ lại bằng với Vi khuẩn
- Tiểu thuyết có khái niệm Người trung gian để tiếp xúc với các Hồn ma ( có phải là các Nhà ngoại cảm ? )
- Dùng các ký hiệu tóan học
- Trái đất dùng các tín hiệu lặp lại nhằm chứng tỏ nguồn gốc nhân tạo của Trái đất để gợi ý tiếp xúc
- Dùng hình ảnh : dựa trên cơ sở phía bên kia cũng có thị giác thấy được cùng các bước sóng như con người
- Tác phẩm KIẾN do Lê thu Hằng dịch từ Les Fourmis của Bernard Werber dùng cách giải mã các Pheromon hội thoại của Kiến để tiếp xúc giữa Con người và Kiến
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
